Thông Tin Bệnh Viện xin gửi đến bạn thông tin về chủng ngừa cho trẻ em.

Tiêm chủng cho trẻ tại cơ quan y tế có uy tín. (Hình minh họa)
Tiêm chủng cho trẻ tại cơ quan y tế có uy tín. (Hình minh họa)

Tuổi nào nên tiêm vaccine gì

Các loại vắc xin đều có qui định mốc thời gian bé bắt đầu tiêm mũi đầu tiên để có thể đạt hiệu quả tốt nhất. Điều khó khăn cho cha mẹ là không biết ở độ tuổi của con mình bé có thể tiêm những loại vắc xin nào. Bài hướng dẫn dưới đây có thể giúp được cho các bạn khi đối chiếu với tuổi của con mình để xem bé cần tiêm những loại nào. Lưu ý đây là tuổi có thể bắt đầu tiêm đối với mỗi loại vắc xin, nếu vì lý do nào đó gây trễ lịch tiêm so với tuổi, bé vẫn được thực hiện mũi tiêm như bình thường và các liều vắc xin tiếp theo sẽ lần lượt được dời để đảm bảo khoảng cách tối ưu giữa các liều.

Tuổi của trẻ Vaccine cần tiêm trong chương trìnhTiêm chủng mở rộng Vaccine có thể ngoài chương trìnhTiêm chủng mở rộng
Mới sinh
  • Lao (BCG)
  • Viêm gan siêu vi B lần 1
2 tháng tuổi
  • Bạch hầu – Ho gà – Uốn ván (DTC) liều 1
  • Bại liệt liều 1
  • Viêm gan siêu vi B liều 2
  • Bệnh do Hib liều 1 (viêm màng não mủ do vi khuẩn)
  • Uống ngừa Rotavirus liều 1 (tiêu chảy)
3 tháng tuổi
  • DTC liều 2
  • Bại liệt liều 2
  • Bệnh do Hib liều 2
  • Rotavirus liều 2
4 tháng tuổi
  • DTC liều 3
  • Bại liệt liều 3
  • Viêm gan siêu vi B liều 3
  • Bệnh do Hib liều 3
Từ 6 tháng tuổi
  • Cúm
9 tháng tuổi
  • Sởi
Đủ 1 tuổi
  • Thủy đậu
  • Sởi – quai bị – Rubella
  • Viêm não nhật bản
  • Viêm gan siêu vi A
16 -18 tháng tuổi
  • Tiêm nhắc DTC
  • Tiêm nhắc bại liệt
  • Tiêm nhắc Hib
Đủ 2 tuổi
  • Viêm màng não mô cầu
  • Thương hàn

Bệnh có thể phòng ngừa được bằng vaccine

Bệnh lao ở trẻ em đã giảm đáng kể so với những thập niên trước đây. Tuy nhiên, tình hình nhiễm HIV/AIDS ở trẻ em ngày càng gia tăng là một nguy cơ tiềm ẩn để bệnh lao quay lại và bùng phát ở trẻ em. Tiêm ngừa BCG giúp phòng các thể lao nặng ở trẻ em như lao kê, lao màng não.

Đây là 3 bệnh có tỷ lệ mắc và tử vong giảm đáng kể trong những thập niên gần đây nhờ thành công của chương trình tiêm chủng mở rộng quốc gia.

Ở nước ta bệnh bại liệt đã được loại trừ từ nhiều năm nay. Tuy nhiên, ở một số nước trong khu vực, thỉnh thoảng phát hiện một vài trường hợp mới. Vì vậy, trẻ em dưới 5 tuổi vẫn phải tiếp tục được chủng ngừa vắc xin bại liệt để phòng ngừa bệnh bại liệt quay trở lại.

Viêm gan siêu vi B là một bệnh do siêu vi trùng gây ra. Bệnh biểu hiện bằng sốt, vàng da, vàng mắt tiểu vàng. Điểm nguy hiểm của bệnh này là trong 100 người bị nhiễm bệnh chỉ có 10 người là biểu hiện ra bệnh với các triệu chứng như trên. Số còn lại không biểu hiện ra bệnh nhưng có thể diễn tiến theo hai hướng: (1) Đa số có sức đề kháng tốt và vượt qua, lúc này cơ thể sẽ có kháng thể chống lại vi rút viêm gan B – “tự chích ngừa”; (2) Một số ít âm thầm diễn tiến đến xơ gan, ung thư gan ở tuổi trưởng thành. Vì vậy, những trường hợp nhiễm viêm gan siêu vi B nên kiểm tra định kỳ mỗi 3-6 tháng để biết có chuyển sang giai đoạn mạn tính hay không ? Trong khu vực châu Á, có nơi tỷ lệ nhiễm vi rút viêm gan B lên đến 60%. Bệnh lây truyền qua đường máu và các dịch tiết trong cơ thể. Cách phòng bệnh hữu hiệu hiện nay là tiêm ngừa vắc xin càng sớm càng tốt. Ở trẻ em, không cần xét nghiệm kiểm tra xem có nhiễm vi rút viêm gan B trước khi tiêm ngừa vì nếu trẻ đã nhiễm thì vắc xin cũng không làm bệnh nặng hơn.

Đây là bệnh do siêu vi trùng gây ra, biểu hiện bằng các triệu chứng sau: Sốt, phát ban toàn thân và kèm theo một hay nhiều hơn các triệu chứng sau: ho, sỗ mũi nước và mắt đỏ. Dấu hiệu ban toàn thân trong bệnh sởi có những đặc điểm sau: Khởi đầu ở sau tai, sau đó lên mặt, xuống cổ, lưng, bụng và tay, chân. Khi ban lặn để lại những vết thâm trên da được gọi là vết hằn da hổ, và bong tróc nhẹ. Đặc điểm này giúp phân biệt giữa ban sởi và các ban khác. Lưu ý: một trẻ từ nhỏ đến lớn có thể bị nổi ban nhiều lần nhưng nếu đúng là ban sởi thì chỉ bị một lần mà thôi. Ở nước ta, do bệnh sởi còn phổ biến nên thời điểm tiêm vắc xin sởi là 9 tháng tuổi thay vì 15 tháng tuổi như các nước tiên tiến. Vì vậy, ở một số ít trẻ, hiệu quả vắc xin không đạt tối ưu do còn kháng thể từ mẹ truyền sang (kháng thể này sẽ trung hòa một phần kháng nguyên trong vắc xin). Chính vì vậy, trong thời gian gần đây, chương trình tiêm chủng quốc gia khuyến cáo nên tiêm nhắc lại một mũi nữa khi các cháu ở độ tuổi đến trường.

Còn gọi là bệnh ban đào hay bệnh sởi của người Đức. Bệnh biểu hiện bởi các triệu chứng là sốt và phát ban toàn thân. Trẻ em mắc bệnh thường tự khỏi trong vòng một tuần mà không để lại di chứng. Phụ nữ mắc bệnh giai đoạn mang thai rất nguy hiểm vì con sinh ra có thể mắc bệnh rubella bẩm sinh để lại những di chứng nặng nề, là gánh nặng của gia đình và xã hội.

Bệnh viêm màng não ở trẻ em do rất nhiều nguyên nhân gây ra như vi trùng, siêu vi trùng, ký sinh trùng và nấm. Những vi trùng hay gặp trong bệnh viêm màng não ở trẻ em là Hib, phế cầu khuẩn, tụ cầu khuẩn, não mô cầu, Klebsiella, vi khuẩn đường ruột và các vi trùng khác. Tuy nhiên, hiện nay chúng ta chỉ có vắc xin phòng bệnh viêm màng não do Hib và não mô cầu. Vắc xin phế cầu khuẩn loại conjugate – loại có hiệu quả ở trẻ em hiện nay chưa thấy xuất hiện trên thị trường Việt Nam.

Bệnh do vi rút gây ra, lây lan qua đường hô hấp và thường gặp ở bé trai nhiều hơn bé gái. Bệnh biểu hiện bằng các triệu chứng như sốt, mệt mỏi, sưng to tuyến nước bọt như tuyến mang tai, tuyến dưới hàm làm cho cổ của bệnh nhân sưng to. Bệnh thường chỉ được điều trị triệu chứng và sẽ hết trong vòng một tuần, ít để lại di chứng. Các biến chứng nguy hiểm của bệnh quai bị là viêm não, viêm cơ tim và vô sinh do viêm xơ teo tinh hoàn ở bé trai.
Đây là một bệnh truyền nhiễm do vi khuẩn não mô cầu gồm các týp A, B, C, Y và W135. Vi khuẩn lây truyền từ người sang người qua những giọt nhỏ khi ho, hắt hơi. Bệnh khởi phát đột ngột với đau đầu nhiều, sốt, buồn nôn, nôn, cổ cứng, nổi ban xuất huyết. Các dấu hiệu khác đi kèm thường là li bì, mê sảng, hôn mê và co giật. Ở trẻ em, tỉ lệ tử vong khoảng 50% nếu không được điều trị. Hiện có vắc xin phòng bệnh đối với týp A, C. Vắc xin không có hiệu quả nhiều ở trẻ nhỏ nên bắt đầu tiêm cho trẻ từ 2 tuổi trở lên.
Bệnh viêm não Nhật Bản do vi rút gây ra qua trung gian truyền bệnh là muỗi. Bệnh khởi phát với các triệu chứng sốt đột ngột, nhức đầu, mệt mỏi, buồn nôn và nôn. Sau 3-4 ngày trẻ có thể co giật, lơ mơ, hôn mê. Khoảng 20% số trường hợp có thể diễn tiến nặng dẫn đến tử vong. Bệnh không có điều trị đặc hiệu mà chủ yếu là điều trị nâng đỡ. Tiêm chủng là cách quan trọng nhất để phòng ngừa bệnh.
Bệnh do siêu vi trùng Varicella zoster, thường gặp ở trẻ em. Bệnh gây sốt phát ban có bóng nước ngứa toàn thân. Bệnh rất dễ lây lan trong môi trường đông đúc như nhà trẻ, mẫu giáo, trường học. Bệnh có thể gây các biến chứng như nhiễm trùng da, viêm não, viêm màng não, viêm tủy cắt ngang. Hiện nay chúng ta hoàn toàn có thể sử dụng vắc xin để phòng bệnh trái rạ cho trẻ từ 12 tháng trở lên.

 

  Đây là bệnh nhiễm trùng ở gan do vi rút gây ra. Khác với viêm gan siêu vi B, đường lây của viêm gan siêu vi A  là đường tiêu hóa qua ăn thức ăn, đồ uống, tiếp xúc với vật có nhiễm phân của người bệnh. Vi rút gây bệnh viêm gan cấp với sốt, mệt, chán ăn, nôn, vàng da.

Bệnh do vi rút Influenza gây ra, lây lan qua đường hô hấp và lưu hành toàn thế giới. Bệnh gây tình trạng nhiễm vi rút hô hấp cấp tính với các triệu chứng sốt, ho, đau đầu, đau cơ, đau họng. Hiện nay có thể ngừa cúm cổ điển ở người bằng cách tiêm vắc xin hàng năm. Riêng các loại cúm biến thể như cúm A-H1N1 hay cúm gia cầm H5N1 hiện vẫn chưa có vắc xin ngừa bệnh.

Thương hàn là bệnh truyền nhiễm do vi khuẩn, lây qua đường tiêu hóa. Bệnh biểu hiện bằng sốt cao, tiêu lỏng, bụng chướng. Biến chứng nguy hiểm thường gặp là xuất huyết tiêu hóa. Phương pháp phòng bệnh đặc hiệu, chủ động và có hiệu quả là tiêm vắc xin.

Là bệnh truyền nhiễm có thể lây lan thành dịch. Bệnh lây truyền qua đường tiêu hóa do thực phẩm, nước uống mang mầm bệnh. Triệu chứng chính của bệnh là nôn và tiêu chảy.  Để phòng bệnh, nên sử dụng nguồn nước vệ sinh, làm sạch môi trường và đảm bảo an toàn thực phẩm. Vắc xin tả thường được cho uống theo chiến dịch và trước mùa dịch hàng năm.

Rotavirus là một loại siêu vi trùng gây ra bệnh viêm dạ dày – ruột với triệu chứng chủ yếu là tiêu chảy, ngoài ra trẻ có thể sốt và nôn mửa. Bệnh rất thường gặp ở trẻ từ 3 – 24 tháng tuổi. Đây là tác nhân thường gặp nhất gây ra tiêu chảy và ói mửa nặng ở trẻ em trên toàn thế giới. Vắc xin phòng bệnh dạng uống sử dụng liều đầu cho trẻ từ 2 – 5 tháng tuổi.
Tác nhân gây bệnh là Human papilomavirus (HPV). Nhiễm HPV 6, 11 có thể gây mụn cóc, u nhú hô hấp. Nhiễm HPV týp 16, 18 có thể gây sang thương biểu mô, tiến triển đến ung thư cổ tử cung.

Nguồn: nhidong.org.vn

 

Điều kiện để trẻ được chủng ngừa

Các chống chỉ định (nếu trẻ có 1 trong những tình trạng sau không được chích ngừa):

1. Co giật hoặc sốc trong vòng 72 giờ sau khi tiêm: Những trường hợp này sẽ không bao giờ được tiêm loại vắc xin này lần thứ hai.

2. Đang uống thuốc corticoide với liều ≥ 2mg/kg/ngày hoặc ≥20mg/ngày, kéo dài từ 14 ngày trở lên.

3. Đang mắc các bệnh cấp tính nặng hoặc trung bình.

4. Đang sốt ≥38,5 °C Nếu trẻ có một trong những điều kiện trên thì sẽ không được tiêm chủng hoặc sẽ trì hoãn đến khi hết bệnh.

Chuẩn bị cho trẻ trước khi đi chủng ngừa

Đưa bé đi chủng ngừa là một việc mà bất cứ bậc phụ huynh nào cũng từng trải qua. Và hẳn không ít lần bạn đã lúng túng khi bác sĩ hỏi về những mũi tiêm trước đây của bé, về loại thuốc mà bé đang sử dụng…Để tránh xảy ra tình huống trên và để tạo điều kiện tốt nhất cho bé khi đi chủng ngừa, quý vị phụ huynh cần lưu ý chuẩn bị một số việc sau đây:

1. Kiểm tra lại tình trạng sức khỏe của bé

Để đảm bảo bé có thể thực hiện được mũi tiêm, bạn nên kiểm tra lại những thông tin sau:

– Trong 3 ngày gần đây bé có sốt hay không?

– Nếu là bé sơ sinh thì cân nặng của bé có đủ 2.5 kg chưa?

– Bé có đang bệnh hay không?

Nếu bé có sốt hoặc dưới 2.5 kg thì chưa thể tiêm ngừa được. Nếu bé đang bệnh thì bạn cần nói rõ các triệu chứng, để bác sĩ thăm khám và quyết định xem bé có thể tiêm được không.

2. Mang theo tất cả sổ tiêm chủng và phiếu tiêm chủng của bé:

Sổ tiêm chủng và phiếu tiêm chủng vô cùng quan trọng khi đưa trẻ đi chủng ngừa, vì trong sổ và phiếu sẽ ghi đầy đủ các mũi tiêm mà bé đã được thực hiện trước đây. Điều này giúp rất nhiều cho bác sĩ khi tham vấn để hỗ trợ phụ huynh lựa chọn phương án chủng ngừa tối ưu cho trẻ như tiêm nhắc, tiêm bù các mũi bỏ sót, tiêm thêm những mũi còn thiếu.

3. Ghi chú về các loại thuốc bé đang sử dụng hoặc đã từng sử dụng kéo dài trên 2 tuần

Vì có những loại thuốc khi sử dụng sẽ làm giảm hiệu quả của vắc xin, do đó đây cũng là một thông tin quan trọng mà ba mẹ cần ghi chú và báo cho bác sĩ biết.

4. Ghi chú về các loại vắc xin, thuốc, thức ăn mà bé đã từng bị dị ứng trước đó

Đây là một thông tin hết sức quan trọng nhằm hạn chế tối đa các phản ứng dị ứng có thể xảy ra sau tiêm. Đặc biệt, nếu bé đã từng dị ứng với một loại vắc xin đã được tiêm trước đây thì ba mẹ bắt buộc phải báo ngay cho bác sĩ biết.

Theo dõi - chăm sóc trẻ sau chủng ngừa

Chăm sóc trẻ:

– Tiếp tục cho bú mẹ hoặc uống thêm nước

– Cho uống thuốc hạ sốt – giảm đau paracetamol nếu trẻ sốt hay quấy khóc với liều thuốc là 10 – 15mg cho mỗi ký lô cân nặng của trẻ.

– Chườm khăn thấm nước lạnh sạch vào vị trí tiêm nếu có sưng đau

Không nên:

– Hạ sốt bằng thuốc aspirin

– Nặn chanh, đắp khoai, kiêng tắm rửa vì dễ gây nhiễm trùng.

Theo dõi trẻ:

Các phản ứng có thể gặp sau tiêm: sốt, sưng, nóng, đỏ, đau ngay vị trí tiêm. Những trường hợp này có thể chăm sóc và theo dõi tại nhà.

Đưa trẻ đến cơ sở y tế ngay khi có một trong những dấu hiệu sau:

– Sốt cao≥ 38,5°C

– Nổi ban

– Các triệu chứng sốt, sưng đau tại chỗ, quấy khóc, bú kém… nặng hơn hoặc kéo dài trên 24 giờ

– Co giật

– Tím tái

 

 

 

Bình luận của bạn

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

*